Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và giải pháp thẻ công dân điện tử
Cập nhật 01/08/2012

Tại Việt Nam, nếu được triển khai, thẻ công dân điện tử là giải pháp đơn giản hóa tương tác Công dân – Doanh nghiệp – Chính phủ, tăng cường an ninh – an toàn xã hội, tăng hiệu suất quản lý nhà nước, và tăng lợi ích cho toàn xã hội. Bài viết dưới đây giới thiệu giải pháp do FPT nghiên cứu, đề xuất để xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về công dân cũng như đưa thẻ công dân điện tử ứng dụng vào thực tế Việt Nam.

Bài toán quản lý công dân

Một công dân Việt Nam hiện đang sở hữu nhiều loại thẻ hoặc giấy tờ: Chứng minh thư, Hộ chiếu, Thẻ bảo hiểm y tế, Bằng lái xe, Mã số thuế cá nhân, Hộ khẩu, Giấy khai sinh, Thẻ học sinh, Thẻ sinh viên… Nếu ở nhiều quốc gia, mã số công dân được sử dụng từ khi sinh đến mãi mãi sau này thì các loại thẻ mà công dân Việt Nam đang có lại không dựa trên một thông tin gốc duy nhất.

Điều này dẫn đến các hệ quả như quản lý chồng chéo, việc giao tiếp giữa công dân, doanh nghiệp và chính phủ bị tắc nghẽn.

Về phía chính phủ, các cơ quan quản lý gặp nhiều khó khăn trong việc xác định nhân thân, định danh của công dân, không nắm được đầy đủ thông tin về công dân (nhân thân, trình độ học vấn, nghề nghiệp, đào tạo, thu nhập, đóng thuế, vi phạm hành chính, gia đình,...) Hầu hết các thẻ hoặc giấy tờ trên đều chưa số hóa và phân tán, dẫn đến công tác kiểm tra khó khăn và dễ bị làm giả.

Về phía công dân, mỗi khi làm giấy tờ, mỗi người lại tốn rất nhiều thời gian và tiền bạc để xác định sự duy nhất của người được cấp phát, gây lãng phí lớn. Công dân ở vùng sâu, vùng xa gặp khó khăn trong việc chứng minh nhân thân trong quá trình làm việc liên tỉnh.

Các Bộ, ngành hiện đang nỗ lực tăng tốc trên hành trình tiến tới Chính phủ điện tử, nhiều dự án cung cấp dịch vụ cho công dân, doanh nghiệp có sử dụng mã số đã và đang được triển khai. Chẳng hạn, sau 15 năm thực hiện cấp mã số thuế, hiện Tổng cục Thuế đang quản lý 18 triệu mã số thuế.

Ngành Bảo hiểm Xã hội cũng đang quản lý tới 56,5 triệu mã số, dự kiến tương lai tăng lên mức 90 triệu, và đang chuẩn bị triển khai một dự án cũng bắt buộc phải sinh ra mã số riêng cho ngành.

Từ trước đến nay, hầu như các ngành vẫn độc lập làm mã số riêng, không thống nhất, không có khóa (key) thống nhất. Như vậy sẽ dẫn đến tốn kém mà không hiệu quả. Đã có hiện tượng cơ quan thuế phát hiện đối tượng khai thuế khai trùng số chứng minh thư nhân dân.

Điều đáng nói là mỗi công dân phải sở hữu khá nhiều loại mã số khác nhau do nhiều cơ quan khác nhau cấp phát nhưng về cơ bản vẫn chỉ gồm các thông số như ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi thường trú, tình trạng kết hôn...

Các vấn đề quản lý công dân, xác thực nhân thân của công dân và chống giả mạo các giấy tờ tùy thân cũng không phải chỉ riêng Việt nam gặp phải mà đây còn là vấn đề đau đầu của nhiều nước phát triển trên thế giới. Theo các báo cáo mới nhất của cơ quản quản lý hợp tác đường biên giới giữa các nước EU thì số các trường hợp sử dụng giấy tờ giả tại biên giới ngày càng gia tăng:

  • Khoảng 213.000 người bị mất định danh trong tổng số 65 triệu dân (Nguồn: Figaro tháng 10, 2011)
  • Khoảng 3 triệu bằng lái xe giả đang được dùng tại Pháp (Nguồn: Usurpation d’identité G de Felcourt tháng 7, 2011)
  • Trên 1 triệu giấy tờ xuất trình làm thủ tục tại ngân hàng hoặc các dịch vụ công sẽ có 3,61% là giấy tờ giả (Nguồn: Figaro tháng 11, 2011)
  • Việc sử dụng giấy tờ giả gây ảnh hưởng lớn đến các dịch vụ xã hội (công việc, sức khỏe và hưu trí) khoảng 20 tỷ Euro tại Pháp năm 2011(Nguồn: Dominique Tian, reports on social fraud to French Senate/ le Figaro, ngày 21/6, 2011) so với  con số ước tính 48 tỷ Euro tại Anh (Nguồn: National Fraud Authority)

Tại Mỹ, theo báo cáo 2011 của Ủy ban thương mại liên bang (FTC), số các vụ sử dụng giấy tờ giả lên mức cao nhất trong 12 năm gân đây, tăng 20% lên con số 1,8 triệu trường hợp so với năm 2010, 70% của các vụ sử dụng giấy tờ giả là giả định danh và lấy cắp định danh.

Giải pháp thẻ công dân điện tử

Thẻ công dân điện tử là giải pháp hữu hiệu mà các nước trên thế giới đã triển khai nhằm giải quyết các vấn đề xác định nhân thân công dân của mình. Ngay trong khu vực, đã có nhiều nước triển khai các dự án thẻ công dân điện tử. Ấn Độ khởi động dự án thẻ công dân điện tử  năm 2006, đây là dự án lớn nhất thế giới với mục tiêu phát hành thẻ công dân cho hơn 1 tỷ công dân. Năm 2011, Ấn Độ phát hành thẻ đầu tiên và dự kiến trong vòng 4 năm sẽ phát hành 600 triệu thẻ. Indonesia bắt đầu dự án thẻ công dân điện tử năm 2009, sau đó, năm 2010 thử nghiệm cho 150 nghìn công dân. Malaysia phát hành thẻ công dân điện tử từ năm 200, hiện nay đã phát hành cho mọi công dân và có các chương trình mở rộng thẻ công dân điện tử như kết hợp bằng lái xe điện tử, ứng dụng ngân hàng.

Tại Việt Nam, nếu được triển khai, thẻ công dân điện tử là giải pháp đơn giản hóa tương tác Công dân – Doanh nghiệp – Chính phủ, tăng cường an ninh – an toàn xã hội, tăng hiệu suất quản lý nhà nước và tăng lợi ích cho toàn xã hội.

Mỗi công dân sẽ được cấp phát 1 thẻ, trong đó mã số thẻ là mã số định danh duy nhất. Mã số gốc này được dùng cho tất cả các giấy tờ cá nhân khác: Giấy khai sinh, khai tử, Chứng minh thư, Hộ chiếu, Bằng lái xe, Thẻ bảo hiểm y tế, Mã số thuế cá nhân, Hộ khẩu, Thẻ học sinh, Thẻ sinh viên, Bằng cấp, Thẻ nhân viên,...

Thẻ công dân là nền tảng cung cấp thông tin và kết nối với các hệ thống quản lý con người khác bao gồm: sinh, tử, hôn nhân, hộ tịch-hộ khẩu (Bộ Tư pháp), chứng minh thư, hộ chiếu (Bộ Công an), giấy phép lái xe (Bộ GTVT), mã số thuế (Tổng cục thuế - Bộ Tài chính), bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, cư trú, học tập, bằng cấp (Bộ Giáo dục và Đào tạo), nghề nghiệp (Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội), tội phạm, sở hữu tài sản, tài khoản ngân hàng,...

Lợi ích của thẻ công dân điện tử có thể kể đến như:

  • Cơ quan quản lý nhà nước có thể tra cứu tức thời tất cả các thông tin liên quan đến công dân.
  • Sử dụng sinh trắc học đảm bảo các mã số công dân là duy nhất không bị trùng.
  • Chuẩn hóa các thuộc tính nhận diện công dân: tên, ngày sinh, giới tính, địa chỉ thường trú, tên bố mẹ, vân tay, ảnh, tròng mắt...
  • Mã số công dân có thể được xác thực mọi lúc, mọi nơi và bằng nhiều cách khác như: Thẻ từ đọc vân tay, Đầu đọc thẻ, Camera soi tròng mắt...
  • Đảm bảo cao nhất khả năng chống làm giả thẻ công dân.
  • Chính phủ nắm chắc toàn bộ các thông tin về công dân (từ sinh tử, cư trú, hôn nhân, quá trình học tập, làm việc, thu nhập, nộp thuế, hưởng an sinh xã hội, tài sản, tuân thủ pháp luật...).
  • Chính phủ có đủ thông tin thống kê và có công cụ ra chính sách để đảm bảo công bằng, an sinh xã hội cho người dân ở mọi tầng lớp khác nhau.
  • Các doanh nghiệp dựa vào thông tin này để cung cấp các dịch vụ cần thiết đúng nhu cầu của người dân.
  • Người dân hưởng lợi khi tham gia các dịch vụ công (ví dụ khi làm việc ở các tỉnh xa quê, khi có nhu cầu xác định nhân thân không phải quay về quê xin xác nhận của địa phương nơi sinh về thông tin của mình).
  • Giảm chi phí cho toàn xã hội nhờ rút ngắn thời gian cấp hộ chiếu, chứng minh thư, bằng lái xe, thẻ bảo hiểm xã hội, thẻ báo hiểm y tế, mã số thuế... (không mất thời gian xác định nhân thân).
  • Lợi ích toàn xã hội vì đã đơn giản hóa và giảm thời gian giao dịch giữa Chính phủ - Doanh nghiệp.
  • Khi mỗi công dân chỉ có một mã số duy nhất, công tác quản lý an ninh, an toàn xã hội, phòng chống tội phạm sẽ tốt hơn:
- Nhờ quản lý công dân tốt hơn: Cấp phát thẻ dễ dàng, nhanh chóng mọi nơi, khó làm giả. Ai cũng phải có thẻ dẫn đến công tác theo dõi tội phạm trở nên dễ dàng hơn
- Nhờ có đầy tủ tất cả các thông tin liên quan đến công dân (kể cả những thông tin về quá trình làm việc, thu nhập, nộp thuế, vi phạm giao thông, vi phạm hành chính, tham gia bầu cử...)
- Dự báo các công dân có nguy cơ trở thành tội phạm (vi phạm giao thông tần xuất cao, vi phạm hành chính, dấu hiệu trốn thuế)
  • Hỗ trợ tốt công tác bầu cử các cấp (từ quản lý công dân tốt dẫn đến quản lý cử tri tốt).
  • Hỗ trợ qui hoạch kinh tế: Trên cơ sở có số liệu công dân online, chính phủ thường xuyên nắm được tổng dân số, độ tuổi dân số, hộ nghèo, cử tri,...
  • Uy tín quốc tế được nâng cao vì Việt Nam sẽ thuộc nhóm nước đi đầu trong việc tích hợp nhiều thông tin cá nhân trên 1 thẻ.
  • Nâng cao sự tín nhiệm của người dân vào Chính phủ nhờ cung cấp các dịch vụ thuận tiện, nhanh chóng hơn cho người dân.

Công nghệ thẻ điện tử và hệ thống thẻ Công dân điện tử

Công nghệ thẻ và nền tảng thẻ mở

Công nghệ thẻ hiện tại đã phát triển đủ để đáp ứng nhu cầu phát hành thẻ công dân điện tử với mã số gốc duy nhất cho mỗi công dân và người dân có thể dùng thẻ này để sử dụng nhiều dịch vụ công của các Bộ, ngành khác nhau. Hiện đã có những những công nghệ bảo mật để xác thực thẻ đó là duy nhất, một thẻ có khả năng lưu nhiều thông tin khác nhau như thông tin về vân tay, thông tin về tròng mắt,... 

Mặt khác cũng đã có những hệ thống thẻ kiến trúc mở, hỗ trợ các Bộ, ngành có thể dùng chung một nền tảng để phát triển các ứng dụng khác nhau. Chẳng hạn sau khi Bộ Công an phát hành ra một thẻ công dân điện tử rồi thì các Bộ, ngành có thể phát triển thêm các ứng dụng đặc thù của ngành mình để người dân có thể sử dụng thẻ để dùng những dịch vụ công, và bản thân công dân có thể tự cài ứng dụng vào thẻ của mình để dùng các dịch vụ trực tuyến thông qua các đầu đọc/ghi thẻ giá rẻ.

Hệ thống thẻ công dân điện tử


Tuy nhiên, để triển khai thẻ công dân điện tử không đơn thuần là chỉ riêng về thẻ mà phải cần đến một hệ thống tương tác giữa các thành phần với các vai trò và trách nhiệm khác nhau, với mức cao nhất là các quy định khung pháp lý cấp nhà nước (Identitive Ecosystem). Để triển khai và vận hành một hệ thống thẻ công dân điện tử cho một quốc gia cần tối thiểu các thành phần:

  • Trust Framework: Là các thỏa thuận giữa các tổ chức tham gia vào hệ thống thẻ công dân, đảm bảo các tổ chức này đồng ý dùng chung định danh. Một tổ chức đồng ý sử dụng định danh công dân được phát hành bởi các tổ chức khác. Tổ chức này cần có đầy đủ chức năng và nhiệm vụ để cung cấp các luật lệ và quy định về phát hành định danh công dân và sử dụng các định danh đó như thế nào.
  • Identity Provider: Các tổ chức tham gia phát hành định danh cho công dân (có thể là các tổ chức tài chính, công ty viễn thông, y tế,...).
  • Attribute Provider: Các tổ chức này có thể chính là các tổ chức phát hành định danh hoặc chỉ là các tổ chức cung cấp các thuộc tính thêm cho định danh công dân. Ví dụ, một công dân có định danh điện tử dùng cho mục đích cá nhân, doanh nghiệp có thể cung cấp các thuộc tính thêm cho định danh này dùng cho mục đích quản lý nhân viên.
  • Relying Party: Các tổ chức chấp nhận các định danh để cung cấp dịch vụ. Ví dụ, ngân hàng, các công ty cung cấp dịch vụ đồng ý xác thực định danh qua thẻ công dân điện tử để cung cấp dịch vụ.

Khi việc xác thực nhân thân của công dân được đảm bảo, toàn bộ hệ thống thẻ công dân đi vào hoạt động sẽ đem lại lợi ích to lớn cho toàn xã hội với các dịch vụ được cung cấp nhanh chóng xoay quanh việc sử dụng thẻ công dân điện tử.